GÓP Ý SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2006 VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CHỨNG NHẬN BẢN DỊCH

LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2006 VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC

CHỨNG NHẬN BẢN DỊCH

         Tuấn Đạo Thanh

         Phòng Công chứng số 1 T.P Hà Nội

Luật Công chứng ngày 29/11/2006 ra đời đã đánh dấu một bước chuyển đáng kể trong quá trình hình thành và hoàn thiện chế định công chứng trong hệ thống pháp luật nước ta. Tuy nhiên, trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình thực tế cũng như những quy định khác của pháp luật có liên quan mật thiết đến hoạt động công chứng, một vài quy định của Luật Công chứng ngày 29/11/2006 đã bộc lộ nhiều bất cập và yêu cầu sửa đổi, bổ sung đạo luật kể trên trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung nhận được nhiều ý kiến đóng góp nhất chính là phương án chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch từ hệ thống các phòng tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sang hệ thống tổ chức hành nghề công chứng như trước đây. Để góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở khoa học của phương án nêu trên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích một số quy định liên quan đến thẩm quyền cũng như quy trình, thủ tục chứng nhận bản dịch công chứng, từ đó chỉ ra những ưu điểm của phương án chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch được nêu ra tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng ngày 29/11/2006.

Nhìn dưới một giác độ nào đó, nhu cầu chứng nhận bản dịch chỉ xuất hiện và tăng cao tại Việt Nam khi nước ta bắt đầu tiến hành hội nhập với thế giới theo xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa. Ban đầu, thẩm quyền chứng nhận chữ ký của người dịch lần đầu tiên được chính thức ghi nhận tại Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước. Cụ thể, Khoản 6, Điều 15, Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước khi liệt kê các việc công chứng nêu rõ công chứng viên được quyền “Chứng nhận chữ ký của người dịch giấy tờ, tài liệu”. Và toàn bộ quy trình “Chứng nhận chữ ký của người dịch giấy tờ, tài liệu” được hướng dẫn tại Điều 29, Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, theo đó “Việc dịch các giấy tờ, tài liệu từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại; dịch từ tiếng nước ngoài này sang tiếng nước ngoài khác phải do người có đủ trình độ ngoại ngữ của thứ tiếng đó thực hiện.

Người dịch phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch. Công chứng viên chứng nhận chữ ký của người dịch trên bản dịch đó”. Sau này, trong những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước như: Thông tư số 276/TT-CC ngày 20/4/1991 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về tổ chức và quản lý công chứng Nhà nước, Thông tư số 120/TT-CC ngày 26/2/1992 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chứng nhận trị giá tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần.., chúng tôi không tìm thấy bất kỳ một quy định cụ thể nào hướng dẫn trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch. Từ những quy định thực định của pháp luật như đã trích dẫn ở trên, chúng ta thấy trong giai đoạn này, hành vi chứng nhận bản dịch của công chứng viên có một số đặc điểm như sau:

– Nhiệm vụ, quyền hạn của công chứng viên chỉ dừng lại ở mức độ chứng nhận chữ ký của người dịch đã trực tiếp chuyển ngữ giấy tờ, tài liệu đó. Người dịch chịu trách nhiệm về việc chuyển ngữ chính xác nội dung giấy tờ, tài liệu được dịch.

– Đặc biệt, các nhà làm luật không hề đưa ra hệ tiêu chí nhằm xác định chính xác loại giấy tờ, tài liệu nào được phép hay loại giấy tờ, tài liệu nào thì không được phép dịch thuật có công chứng.

– Dịch thuật có công chứng được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản là dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và dịch từ tiếng nước ngoài này sang tiếng nước ngoài khác.

Sau này, khi Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước ra đời thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch cũng có một vài thay đổi nhất định. Để làm rõ nhận định kể trên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu toàn văn Khoản 1, Điều 18, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước liệt kê các công việc được thực hiện bởi Phòng Công chứng nhà nước, bao gồm “Chứng nhận hợp đồng kinh tế, hợp đồng bán đấu giá bất động sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài; chứng nhận biên bản của Hội đồng định giá tài sản bằng hiện vật đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp tư nhân; chứng nhận việc trình kháng nghị hàng hải; chứng nhận bản dịch đơn yêu cầu, bản án và quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có liên quan đến công dân hoặc tổ chức Việt Nam để Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; chứng nhận bản dịch các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài về việc người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam, nhận người Việt Nam làm con ngoài giá thú, nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nhận đỡ đầu người Việt Nam, chứng nhận bản dịch di chúc bằng tiếng nước ngoài ra tiếng Việt”. Sau đó, các nhà làm luật đã dành toàn bộ nội dung một điều luật để hướng dẫn chi tiết trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch công chứng. Cụ thể, “Việc dịch đơn yêu cầu và bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có liên quan đến công dân hoặc tổ chức Việt Nam để Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; việc dịch các giấy tờ tiếng nước ngoài về việc người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam, nhận người Việt Nam làm con ngoài giá thú, nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nhận đỡ đầu người Việt Nam, di chúc và giấy tờ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại phải do người có trình độ ngoại ngữ hoặc đại học Luật mà thông thạo thứ tiếng đó thực hiện.

Người yêu cầu công chứng có đủ trình độ ngoại ngữ theo quy định trên đây cũng có thể tự dịch và đề nghị công chứng chứng nhận bản dịch của mình.

Danh sách người dịch là cộng tác viên thường xuyên của Phòng Công chứng nhà nước do Giám đốc Sở Tư pháp công nhận theo đề nghị của Trưởng phòng Công chứng nhà nước.

Người dịch phải ký và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch. Công chứng viên chứng nhận chữ ký người dịch trên bản dịch đó” (xem Điều 32, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước). Mặc dù đã đầy đủ, chi tiết hơn rất nhiều so với quy định tương tự tại Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước nhưng trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch công chứng vẫn tiếp tục được hướng dẫn tại Thông tư số 1411/TT.CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước. Cụ thể, Mục E, Phần III, Thông tư số 1411/TT.CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước kể trên xác định trình tự, thủ tục “Chứng nhận bản dịch” như sau “1. Phòng Công chứng nhà nước chứng nhận bản dịch theo yêu cầu của đương sự.

  1. Người yêu cầu chứng nhận bản dịch phải xuất trình bản gốc của bản dịch đó cho Phòng Công chứng nhà nước.

Công chứng viên chứng nhận chữ ký của người dịch bản dịch đó.

Phòng Công chứng nhà nước lưu trữ bản dịch và bản sao của bản gốc”. Từ những quy định kể trên, chúng ta có thể đưa ra một vài nhận xét như sau về trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch công chứng trong giai đoạn kể trên. Cụ thể như sau:

– Lần đầu tiên các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, cụ thể những loại giấy tờ, tài liệu được phép dịch thuật có công chứng. Thậm chí, cả hình thức thể hiện của giấy tờ, tài liệu đó cũng được xác định rõ ràng (phải là bản chính).

– Dường như, lúc này dịch thuật có công chứng chỉ còn được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản là dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài mà thôi.

– Chưa từng có tiền lệ, tiêu chuẩn cũng như trình tự, thủ tục công nhận người dịch là cộng tác viên thường xuyên cũng đã được xác định. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã cho phép đương sự có trình độ ngoại ngữ phù hợp được phép tự dịch.

– Về mặt nguyên tắc, người dịch phải ký và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch. Sau khi đã kiểm tra bản chính giấy tờ, tài liệu yêu cầu chuyển ngữ, công chứng viên sẽ chứng nhận chữ ký người dịch trên bản dịch đó.

– Đặc biệt, việc lưu trữ bản dịch (bao gồm bản sao của giấy tờ, tài liệu cần dịch và bản chuyển ngữ của giấy tờ, tài liệu đó) đã được quy định một cách chính thức, tương tự như cách thức lưu trữ đối với các văn bản công chứng khác.

Đến khi Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực ra đời, trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch vẫn tiếp tục được hoàn thiện. Lúc này, dường như chứng nhận bản dịch đã trở thành một nhiệm vụ mang tính truyền thống của hệ thống tổ chức hành nghề công chứng. Điểm c, Khoản 1, Điều 21, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực khẳng định Phòng Công chứng có thẩm quyền “Công chứng bản dịch giấy tờ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại”. Tương tự như ở Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, các nhà làm luật đã dành toàn bộ nội dung một điều luật (Điều 57) để quy định về “Công chứng bản dịch giấy tờ”, theo đó “1. Việc dịch giấy tờ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại để công chứng phải do người dịch là cộng tác viên của Phòng Công chứng thực hiện. Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp Đại học ngoại ngữ hoặc Đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó thực hiện. Cộng tác viên của Phòng Công chứng do Trưởng phòng Công chứng công nhận và chịu trách nhiệm về trình độ dịch của người đó,

  1. Phòng Công chứng tiếp nhận bản chính và giao cho người dịch thực hiện. Người dịch phải ký và chịu trách nhiệm về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch, công chứng viên công chứng chữ ký của người dịch trên bản dịch đó. Từng trang của bản dịch giấy tờ phải được đóng dấu chữ BẢN DỊCH vào chỗ trống phía trên bên phải. Bản dịch phải được đính kèm với bản sao của bản chính và được đóng dấu giáp lai

Người yêu cầu công chứng có thể tự dịch giấy tờ của mình và chịu trách nhiệm về tính chính xác, phù hợp với nội dung bản dịch. Trong trường hợp cần thiết, bản dịch phải được hiệu đính. Cộng tác viên thực hiện việc hiệu đính, ký và chịu trách nhiệm về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch đã hiệu đính.

Trong trường hợp công chứng viên có tiêu chuẩn và được công nhận là người dịch theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì công chứng viên này có thể trực tiếp dịch và công chứng bản dịch.

  1. Việc công chứng bản dịch giấy tờ được thực hiện ngay sau khi người dịch đã dịch xong. Về nguyên tắc việc dịch phải được thực hiện trong 1 ngày làm việc, trừ trường hợp bản dịch có nhiều trang hoặc có nội dung phức tạp thì thời hạn dịch không quá 5 ngày làm việc; trong trường hợp đặc biệt thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày làm việc.
  2. Không được công chứng bản dịch giấy tờ trong các trường hợp sau đây:
  3. a) Công chứng viên biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc không hợp lệ; bản chính giả;
  4. b) Giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt hoặc đã bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung;
  5. c) Giấy tờ có xác định độ mật của cơ quan nhà nước, đoàn thể, tổ chức xã hội và tổ chức kinh tế; giấy tờ bị cấm phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng”. Sau này, để làm rõ khái niệm “bản chính” được nêu tại Khoản 2, Điều 57, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Điểm 8, Phần I, Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/03/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực đã chỉ rõ “Bản chính quy định tại khoản 2 Điều 57 của Nghị định là văn bản mà Phòng Công chứng tiếp nhận từ người yêu cầu công chứng để dịch. Người dịch phải dịch đầy đủ nội dung của văn bản đã được Phòng Công chứng giao cho dịch; nếu là bản sao, bản trích lục phải dịch là bản sao, bản trích lục; nếu là bản Fax phải dịch rõ là bản Fax. Khi tiếp nhận văn bản để dịch, Phòng Công chứng lưu ý các trường hợp không được công chứng bản dịch quy định tại khoản 4 Điều 57 của Nghị định”. Từ những quy định như đã trích dẫn kể trên, chúng ta thấy cách thức công chứng bản dịch trong giai đoạn kể trên có một vài nét đáng lưu ý như sau:

– Tương tự như quy định tại Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, dịch thuật có công chứng chỉ được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản là dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.

– Về mặt lý thuyết, cá nhân hay tổ chức có nhu cầu chứng nhận bản dịch có thể lựa chọn một trong ba hình thức chuyển ngữ sau: tự mình đứng ra dịch, đề nghị cộng tác viên hiệu đính bản dịch của mình hoặc yêu cầu cộng tác viên dịch.

– Tiêu chuẩn cũng như trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận đội ngũ cộng tác viên dịch vẫn tiếp tục được ghi nhận. Đặc biệt, pháp luật cũng cho phép công chứng viên thỏa mãn điều kiện theo luật định có thể tự dịch.

– Lần đầu tiên, thời gian thực hiện việc chuyển ngữ cũng đã được pháp luật ấn định một cách rõ ràng. Các quy định về hình thức bản dịch tiếp tục được ghi nhận và hoàn thiện thêm một bước.

– Phạm vi các loại giấy tờ, tài liệu được phép dịch thuật có công chứng được mở rộng. Hệ tiêu chí nhằm xác định loại giấy tờ, tài liệu nào được phép dịch thuật công chứng được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, bao gồm cả hình thức biểu hiện của giấy tờ, tài liệu đó.

Đến khi Luật Công chứng ngày 29/11/2006 ra đời hay nói chính xác hơn là bằng việc ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, các nhà làm luật đã chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch từ hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng sang hệ thống các phòng tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là phòng tư pháp cấp huyện). Minh chứng cho nhận định kể trên chính là nội dung Điểm b, Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/1/2012 của Chính phủ, theo đó phòng tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là phòng tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền “Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ.

Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 1 Điều này và đóng dấu của Phòng Tư pháp”. Tiếp đó, các nhà làm luật đã dành Điều 18, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/1/2012 của Chính phủ để quy định về “Chứng thực chữ ký của người dịch”, theo đó “1. Người dịch phải là người thông thạo tiếng nước ngoài cần dịch.

  1. Người dịch phải cam đoan và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch.
  2. Việc chứng thực chữ ký của người dịch được thực hiện theo thủ tục chứng thực chữ ký được quy định tại Điều 17 của Nghị định này.
  3. Trang đầu tiên của bản dịch phải được ghi rõ chữ BẢN DỊCH vào chỗ trống phía trên bên phải. Nếu bản dịch có từ hai trang trở lên thì phải đánh số trang theo thứ tự và phải đóng dấu giáp lai giữa các tờ. Bản dịch phải được đính kèm với bản sao của giấy tờ cần dịch” trong khi “1. Cá nhân yêu cầu chứng thực chữ ký của mình phải xuất trình các giấy tờ sau đây:
  4. a) Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác;
  5. b) Giấy tờ, văn bản mà mình sẽ ký vào đó.
  6. Người yêu cầu chứng thực phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực.
  7. Người thực hiện chứng thực phải ghi rõ ngày, tháng, năm chứng thực; địa điểm chứng thực; số giấy tờ tùy thân của người yêu cầu chứng thực, ngày cấp, nơi cấp; chữ ký trong giấy tờ, văn bản đúng là chữ ký của người yêu cầu chứng thực; sau đó ký và ghi rõ họ, tên và đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền chứng thực” là toàn văn nội dung Điều 17 của Nghị định kể trên. Sau này, tại Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chúng ta còn tìm thấy một vài quy định có liên quan đến công tác dịch thuật. Cụ thể, Điểm 5, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký kể trên quy định về “Người dịch” như sau “Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 79 thì người dịch phải là người thông thạo tiếng nước ngoài cần dịch. Để xác định người thông thạo tiếng nước ngoài thì cần căn cứ vào một trong các tiêu chuẩn sau đây:
  8. a) Người dịch có bằng cử nhân ngoại ngữ trở lên về thứ tiếng nước ngoài cần dịch;
  9. b) Người dịch có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên tại nước ngoài đối với thứ tiếng nước ngoài cần dịch”; Hay Điểm 6, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đề cập tới “Cộng tác viên dịch thuật” như sau “Để tạo điều kiện thuận tiện cho người yêu cầu chứng thực trong việc liên hệ tìm người dịch, Phòng Tư pháp cấp huyện có thể tổ chức đội ngũ cộng tác viên dịch thuật. Người có đủ một trong các tiêu chuẩn nêu tại điểm a hoặc b khoản 5 của Thông tư này được đăng ký làm cộng tác viên dịch thuật của một hoặc nhiều Phòng Tư pháp cấp huyện trong phạm vi cả nước.

Người dịch là cộng tác viên của Phòng Tư pháp phải ký hợp đồng dịch thuật với Trưởng phòng Tư pháp, trong đó cam kết thực hiện dịch chính xác và chấp hành nội quy dịch thuật của Phòng Tư pháp.

Danh sách cộng tác viên dịch thuật được niêm yết công khai tại trụ sở của Phòng Tư pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho người có nhu cầu dịch thuật liên hệ”. Hoặc nội dung Điểm 7, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký nói “Về thù lao dịch thuật” như sau “Về nguyên tắc, mức thù lao dịch thuật do người yêu cầu dịch và người dịch tự thỏa thuận. Tuy nhiên, để tránh tình trạng người dịch đưa ra mức thù lao quá cao, đồng thời để tạo điều kiện cho công tác quản lý nhà nước về dịch thuật, Sở Tư pháp cần phối hợp với Sở Tài chính xây dựng biểu mức thù lao dịch thuật.

Mức thù lao dịch thuật phải được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của Phòng Tư pháp”. Ngoài thay đổi mang tính đột phá là chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch từ hệ thống tổ chức hành nghề công chứng sang cho hệ thống phòng tư pháp cấp huyện, lần đầu tiên đề cập tới mức thù lao dịch thuật hay sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dịch thuật”…, trình tự, thủ tục chứng nhận bản dịch theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/1/2012 của Chính phủ hầu như không có gì thay đổi so với quy định tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực.

Từ những quy định của pháp luật thực định, chúng ta thấy khi đề cập tới hành vi chứng nhận bản dịch có công chứng hay chứng thực, các nhà làm luật vẫn chưa đưa ra một quan điểm pháp lý thống nhất về vai trò pháp lý của công chứng viên hay người có thẩm quyền công chứng đối với chất lượng của loại hình dịch thuật này. Minh chứng cho nhận định kể trên chính là tên gọi đối với hành vi chứng nhận bản dịch của công chứng viên hay của người có thẩm quyền chứng thực được thay đổi liên tục như “chứng nhận chữ ký của người dịch giấy tờ, tài liệu” hay “chứng nhận bản dịch” hoặc “công chứng bản dịch”… Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định khác có liên quan của pháp luật, dường như yêu cầu đưa ra đối với công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực chỉ dừng lại ở mức độ chứng nhận chữ ký của người dịch mà thôi. Với cách quan niệm như vậy, hiển nhiên để nâng cao chất lượng bản dịch có công chứng, chứng thực, người ta chỉ cần quan tâm tới khả năng chuyển ngữ của người dịch là đủ. Thế nhưng luận điểm kể trên lại tỏ ra mâu thuẫn với những quy định nhằm xác định chính xác một số loại, dạng giấy tờ, tài liệu nhất định mới được phép dịch thuật có công chứng, chứng thực. Theo quan điểm của cá nhân chúng tôi, điểm khác biệt lớn nhất giữa hình thức dịch thuật có công chứng, chứng thực và hình thức dịch thuật không có công chứng, chứng thực nằm ở giá trị pháp lý của bản dịch. Giá trị pháp lý của bản dịch có công chứng, chứng thực phải được thể hiện qua hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là bản dịch đó phải được chứng nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền theo luật định hay nói một cách cụ thể hơn là bản dịch được xác nhận bởi công chứng viên hay người có thẩm quyền chứng thực. Yếu tố thứ hai có ảnh hưởng tới giá trị pháp lý của bản dịch công chứng, chứng thực chính là chỉ có những giấy tờ, tài liệu hợp pháp cả về mặt hình thức, nội dung lẫn thẩm quyền ban hành… mới có thể được phép dịch thuật có công chứng, chứng thực. Ở yếu tố thứ hai, chúng ta thấy công chứng viên hay người có thẩm quyền chứng thực hoàn toàn có đủ điều kiện để xác định đâu là một giấy tờ, tài liệu thỏa mãn các điều kiện do luật định để được phép dịch thuật có công chứng, chứng thực nếu như cá nhân, tổ chức yêu cầu chuyển ngữ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài. Nói một cách cụ thể hơn, đối với các loại giấy tờ, tài liệu được lập bằng tiếng Việt, do cá nhân, tổ chức Việt Nam có thẩm quyền xác nhận, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực có thể dễ dàng xem xét, kiểm tra tính hợp pháp của chúng. Tuy nhiên, trong trường hợp giấy tờ, tài liệu cần chuyển ngữ lại do cơ quan nước ngoài cấp bằng tiếng nước ngoài, khả năng xác định tính hợp pháp của những giấy tờ, tài liệu đó trở nên vô cùng khó khăn đối với công chứng viên hay người có thẩm quyền chứng thực. Đây cũng chính là vấn đề nhận được sự quan tâm của rất nhiều luật gia trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng ngày 29/11/2006. Trước khi trả lời câu hỏi kể trên, chúng ta hãy cùng trở lại với nội dung Khoản 8, Điều 8, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18/6/2009, theo đó cơ quan đại diện có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện “Hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài được cơ quan hoặc người có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận công chứng, chứng thực để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam; chứng nhận lãnh sự giấy tờ, tài liệu được cơ quan hoặc người có thẩm quyền của Việt Nam công chứng, chứng thực để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại quốc gia tiếp nhận”. Sau đó, tại Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, các nhà làm luật đã làm rõ thêm một vài khái niệm khác có liên quan như hợp pháp hóa lãnh sự, nội dung hợp pháp hóa lãnh sự, yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự… (xem Khoản 2, Điều 2; Điều 3 và Điều 4, Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự). Từ những quy định của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18/6/2009, Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.., công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực hoàn toán có thể xem xét tính hợp pháp của giấy tờ, tài liệu do cá nhân, tổ chức nước ngoài cấp bằng tiếng nước ngoài. Khả năng này sẽ càng được tăng cường nếu như công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực yêu cầu người dịch phải tiến hành dịch trước nội dung của giấy tờ, tài liệu đó từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Lúc này, công chứng viên hay người có thẩm quyền chứng thực sẽ phải kiểm tra nội dung, hình thức… của giấy tờ, tài liệu đem dịch có phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam trước khi tiến hành công chứng bản dịch cho những giấy tờ, tài liệu đó. Rõ ràng, nếu tuân thủ trình tự kể trên, việc xác định tính hợp pháp (tất nhiên là trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam) của giấy tờ, tài liệu do cá nhân, tổ chức nước ngoài cấp bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn sẽ nằm trong tầm kiểm soát của công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực.

Từ thực tế công tác cũng như xuất phát từ những quy định có liên quan, chúng tôi thấy để đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng bản dịch có công chứng, chứng thực người ta cần phải giải quyết được thấu đáo được những vấn đề sau đây:

– Chất lượng của giấy tờ, tài liệu được phép dịch có công chứng, chứng thực: Nhìn một cách khái quát nhất, hiện nay chúng ta có hai loại hình dịch thuật khi có nhu cầu cần chuyển ngữ một loại giấy tờ, tài liệu nào đó. Loại hình dịch thuật thứ nhất chính là các cá nhân hoặc doanh nghiệp tự đứng ra làm công tác dịch thuật một cách chuyên nghiệp. Ở loại hình dịch thuật này, về mặt lý thuyết người ta có thể thuê người dịch chuyển ngữ bất kể loại giấy tờ, tài liệu nào từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác mà không cần quan tâm đến giá trị pháp lý của giấy tờ, tài liệu cần dịch. Trong khi đó, với loại hình dịch thuật thứ hai, loại hình dịch thuật có công chứng, chứng thực người dịch chỉ được phép chuyển ngữ một số loại giấy tờ, tài liệu nhất định khi chúng thỏa mãn các quy định của pháp luật trên một số phương diện như: hình thức, nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản…

– Trình độ chuyên môn của người dịch có công chứng, chứng thực: Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bản dịch có công chứng. Với yêu cầu này, hiển nhiên người dịch phải thông thạo ngôn ngữ cần dịch mà cụ thể ở đây là tiếng Việt và ngoại ngữ cần chuyển ngữ của giấy tờ, tài liệu đó. Không những vậy, bên cạnh trình độ ngoại ngữ, người dịch cần phải có kiến thức chuyên sâu (ví dụ như luật học, xây dựng, chứng khoán, kế toán, sinh học, quân sự, y tế…) đối với chuyên ngành cần dịch. Đặc biệt, người dịch có công chứng còn phải dịch một cách đầy đủ, chính xác, sát nghĩa nội dung giấy tờ, tài liệu cần phải chuyển ngữ và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước người yêu cầu dịch thuật cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về nội dung bản dịch.

– Hình thức cũng như thủ tục, trình tự chứng nhận bản dịch có công chứng, chứng thực: Xét về bản chất pháp lý, đây chính là cơ chế, biện pháp nhằm khẳng định trách nhiệm pháp lý của người dịch đối với nội dung bản dịch. Bằng cách quy định chi tiết, cụ thể hình thức của bản dịch có công chứng, chứng thực người ta mới có cơ sở pháp lý đáng tin cậy để so sánh, đối chiếu nội dung chuyển ngữ giữa giấy tờ, tài liệu được dịch và nội dung bản dịch của giấy tờ, tài liệu đó. Đặc biệt, sau khi đã được chứng nhận chữ ký trên bản dịch theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, hiển nhiên người dịch phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nếu như dịch không đầy đủ, chính xác, sát nghĩa giấy tờ, tài liệu cần chuyển ngữ.

Từ những lập luận kể trên cũng như từ các quy định khác có liên quan của pháp luật, cá nhân chúng tôi cho rằng quan điểm chuyển trả chức năng chứng nhận bản dịch từ hệ thống phòng tư pháp cấp huyện sang cho hệ thống tổ chức hành nghề công chứng sẽ giải quyết được một số vấn đề bất cập như sau:

Thứ nhất, phù hợp với thông lệ quốc tế. Về cơ bản, hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai trường phái công chứng cơ bản là công chứng hình thức và công chứng nội dung. Nếu như trường phái công chứng hình thức thường xuất hiện tại các quốc gia có hệ thống pháp luật án lệ thì trường phái công chứng nội dung lại hiện diện tại những quốc gia theo hệ thống pháp luật thành văn. Tuy chức năng, nhiệm vụ của công chứng hình thức và công chứng nội dung rất khác biệt nhau nhưng cả hai trường phái công chứng kể trên đều được cơ quan Nhà nước giao cho thẩm quyền chứng nhận bản dịch. Minh chứng cho nhận định kể trên chính là quy định của pháp luật về công chứng của Cộng hòa Pháp (quốc gia tiêu biểu cho trường phái công chứng nội dung) hay của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (đất nước đại diện cho trường phái công chứng hình thức). Từ tháng 10/2013, công chứng Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên minh Công chứng Quốc tế (UINL) nên việc tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực pháp lý đã được quốc tế hóa là điều hoàn toàn cần thiết trong bối cảnh chúng ta đang triển khai mạnh mẽ tiến trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, việc giao cho hệ thống tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận bản dịch sẽ thúc đẩy hoạt động dịch thuật công chứng được chuyên nghiệp hóa bởi lẽ trong khi công chứng viên phải hành nghề một cách chuyên nghiệp, lâu dài thì trưởng phòng, phó trưởng phòng tư pháp cấp huyện lại khó có thể đáp ứng được tiêu chí này. Nói cụ thể hơn, chính nguyên tắc hành nghề chuyên nghiệp của công chứng viên sẽ tạo tiền đề pháp lý cho hoạt động dịch thuật công chứng đi vào nề nếp, theo hướng chuyên sâu.

Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu dịch thuật. Có một thực tế là nhu cầu chuyển ngữ giấy tờ, tài liệu chỉ tập trung tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trình độ phát triển kinh tế, xã hội cao, có nhu cầu giao lưu quốc tế lớn trong khi phòng tư pháp cấp huyện lại được phân bố một cách đồng đều giữa các địa phương trên toàn quốc. Nói cụ thể hơn, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên toàn quốc hiện đang có khoảng 680 phòng tư pháp cấp huyện được phân bố trên tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, không kể vùng miền trong khi chúng ta có khoảng 704 tổ chức hành nghề công chứng (với 1327 công chứng viên) tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố lớn như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Và không phải ngẫu nhiên, những tỉnh, thành phố nơi tập trung nhiều tổ chức hành nghề công chứng cũng như công chứng viên lại chính là địa phương có nhu cầu chứng nhận bản dịch rất lớn. Do nhu cầu chứng nhận bản dịch không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc dẫn đến tình trạng trưởng phòng, phó trưởng phòng tư pháp cấp huyện tại những tỉnh, thành phố có nhu cầu chứng nhận bản dịch cao sẽ bị quá tải trong khi các trưởng phòng, phó trưởng phòng tư pháp cấp huyện tại những tỉnh, thành phố có nhu cầu chứng nhận bản dịch thấp lại hiếm khi có việc làm. Tuy ít hoặc thậm chí không có nhu cầu chứng nhận bản dịch nhưng để bảo đảm cung cấp dịch vụ dịch thuật có chứng thực trong trường hợp cần thiết, người ta vẫn phải duy trì một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhất định. Điều này đương nhiên dẫn đến việc lãng phí ngân sách Nhà nước một cách hoàn toàn không cần thiết. Tình trạng kể trên sẽ được khắc phục về cơ bản nếu như chúng ta chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch về cho hệ thống tổ chức hành nghề công chứng. Và như một hệ quả tất yếu, chủ trương tinh giản biên chế đối với hệ thống phòng tư pháp cấp huyện tại các tỉnh, thành phố nơi có nhu cầu chứng nhận bản dịch thấp sẽ dễ dàng được thực hiện thành công.

Thứ ba, thuận tiện cho việc xây dựng cơ chế nhằm ràng buộc trách nhiệm của người dịch và công chứng viên đối với chất lượng bản dịch, bảo vệ một cách hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp của người có nhu cầu dịch thuật. Nhìn dưới một giác độ nào đó, công chứng nói chung hay dịch thuật có công chứng nói riêng được coi là một dạng dịch vụ pháp lý đặc thù. Do có bản chất pháp lý là dịch vụ và cá nhân, tổ chức có nhu cầu cũng đã phải thanh toán một khoản chi phí nhất định khi sử dụng nên hiển nhiên khi quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ (mà trong trường hợp cụ thể này là người yêu cầu chứng nhận bản dịch) bị thiệt hại do sử dụng dịch vụ không bảo đảm chất lượng, vấn đề bồi thường sẽ được đặt ra. Về mặt lý thuyết, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trưởng phòng, phó trưởng phòng tư pháp cấp huyện gây ra trong khi thi hành công vụ sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18/6/2009. Tuy nhiên, cách hiểu kể trên khó có thể áp dụng trong tình huống chứng nhận bản dịch, bởi lẽ thiệt hại xảy ra do bản dịch được chứng thực kém chất lượng không phải lúc nào cũng có nguyên nhân từ phía người có thẩm quyền chứng thực. Trong khi đó, với cơ chế bảo đảm bồi thường thiệt hại bằng cách mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, các tổ chức hành nghề công chứng hoàn toàn có khả năng bồi thường mọi thiệt hại có thể xảy ra cho người yêu cầu công chứng, bao gồm cả những thiệt hại xảy ra trong hoạt động dịch thuật có công chứng.

Tóm lại, từ việc tập hợp các quy định của pháp luật thực định xoay quanh hoạt động dịch thuật có công chứng, chứng thực, chúng tôi mong muốn làm rõ hơn bản chất pháp lý của loại hình dịch vụ dịch thuật có phần đặc thù này. Với tiêu chí nhằm cung cấp dịch vụ dịch thuật được chứng nhận tốt nhất cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu, chúng tôi cũng mạnh dạn trình bày, phân tích một vài ưu điểm của phương án chuyển giao thẩm quyền chứng nhận bản dịch từ hệ thống phòng tư pháp cấp huyện sang cho hệ thống tổ chức hành nghề công chứng./.